Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2016

Nghệ thuật bán hàng trên Facebook

Nghệ thuật bán hàng trên Facebook


nghệ thuật bán hàng trên facebook (17)
nghệ thuật bán hàng trên facebook (21)
nghệ thuật bán hàng trên facebook (22)
nghệ thuật bán hàng trên facebook (4)
nghệ thuật bán hàng trên facebook (16)
nghệ thuật bán hàng trên facebook (6)
nghệ thuật bán hàng trên facebook (2)
nghệ thuật bán hàng trên facebook (3)
nghệ thuật bán hàng trên facebook (13)
nghệ thuật bán hàng trên facebook (14)
nghệ thuật bán hàng trên facebook (15)
nghệ thuật bán hàng trên facebook (1)
nghệ thuật bán hàng trên facebook (5)
nghệ thuật bán hàng trên facebook (18)
nghệ thuật bán hàng trên facebook (19)
nghệ thuật bán hàng trên facebook (20)
nghệ thuật bán hàng trên facebook (11)
nghệ thuật bán hàng trên facebook (23)
nghệ thuật bán hàng trên facebook (10)
nghệ thuật bán hàng trên facebook (9)
nghệ thuật bán hàng trên facebook (8)

Thứ Tư, 24 tháng 2, 2016

Bí quyết chiêu mộ nhân tài của Steve Jobs

Bí quyết chiêu mộ nhân tài của Steve Jobs


Steve Jobs là một con người phi thường với những ý tưởng, những phát kiến và cách thức tư duy vượt ra ngoài những chuẩn mực và giới hạn thông thường. Cái cách chiêu mộ nhân tài của ông cũng không ngoại  lệ.


Với Steve Jobs, một bản CV chỉnh chu và hoàn hảo không thật sự quan trọng như quan niệm cố hữu của số đông. Việc đưa một cái tên vào danh sách các ứng viên sáng giá bắt đầu bằng việc đánh giá những thành tựu trong quá khứ của người đó. Đồng thời tìm kiếm những căn cứ minh chứng tài năng của họ trong một lĩnh vực nhất định hoặc kỹ năng mà công ty hay một dự án cụ thể cần đến. Đó mới chính là những thước đo quan trọng mà Apple sử dụng để sàng lọc các ứng viên.
Jay Elliot – phó chủ tịch cao cấp của Apple, đồng tác giả cuốn sách “con  đường Steve Jobs” đã đúc kết nguyên tắc tuyển người “bất  di bất dịch” của “ông vua công nghệ” đó là tìm kiếm những người có hứng thú thật sự với các dự án của Apple và chỉ tuyển những người có IQ cao (IQ đạt ba chữ số).
Là người gắn bó lâu năm cùng Steve Jobs, chứng kiến tất cả những thăng trầm và đỉnh cao mà Steve cùng Apple trải qua, Jay Elliot tỏ ra thấu triệt nghệ thuật chiêu mộ nhân tài của Steve. Theo ông, nó vượt ra khỏi những phương thức tuyển dụng truyền thống và góp phần phát triển tài năng tiềm ẩn của con người.
Hãy cùng Yourwant.com.vn khám phá bí quyết làm nên sự  khác biệt trong chiêu nghệ thuật chiêu mộngười tài của Steve  Jobs.

Sử dụng sản phẩm của bạn để chiêu mộ nhân tài


Steve Job có một tình yêu và niềm đam mê mãnh liệt với công nghệ. Và chính tình yêu dành cho các sản phẩm Apple của Steve  đã biến bản thân các sản phẩm đó thành những thông điệp đầy ma lực để chiêu dụ những con người tài năng và sáng tạo nhất. Theo Jay Elliot, khả năng tạo ra những công nghệ cá nhân chuẩn mực của Steve bổ sung cho khả năng thu hút nhân tài. Trước hết, phải là những người  thật sự có đam mê, hứng thú và thật sự bị cuốn hút bởi những sản phẩm của Apple mới có khả năng thực hiện tầm nhìn chiến lược của Steve Jobs.

Nhân tài tìm thấy nhân tài

Trong qua điểm chiêu mộ người tài của Steve Jobs để tìm được nhân tài (tiềm năng) hãy biến những nhân tài (bạn đang sở hữu) trở thành những nhà tuyển dụng. Họ chứ không phải bất kỳ một ai khác mới chính là nhà tuyển  dụng cừ khôi nhất. Họ là những người có khả năng hiểu rõ nhất ai có những  giá trị và phong cách giống như bạn và giống như bản thân họ. Steve từng phát biểu rằng : “Một kỹ sư giỏi là một bội số nhân khổng lồ.”
Trước khi tiến hành dự án Mac, Steve Jobs cùng các cộng sự khởi hành một vài chương trình để đảm bảo tuyển đúng nhân tài làm việc cho dự án chiến lược trên. Steve đã ra quyết định thưởng cho nhân viên 500 USD nếu ứng viên họ giới thiệu được tuyển. Ngoài ra, ban điều hành Apple do Steve đứng đầu còn tiến hành giải pháp đưa những nhân viên giỏi nhất đã tuyển được trong vòng 2 năm trở về trường cũ của họ để tìm kiếm những ứng viên thích hợp với các tiêu chí của Apple.

Tuyển dụng những đấu thủ hạng A

Là người theo đạo Phật, Steve Jobs luôn nhìn mọi sự vật và hiện tượng dưới  góc độ “khai tâm” , nghĩa là nhìn mọi sự quen thuộc theo một cách thức mới mẻ. Steve Jobs cực kỳ xa lạ với những khái niệm “định kiến”, “thành kiến”, “quy trình”. Steve thường gặp gỡ các ứng viên mà không cần chuẩn bị trước nội dung.
Khi phỏng vấn một ứng viên cho một vị trí nào đó, Steve Jobs thường tiếp cận dưới góc độ không quen thuộc và tự vấn họ có phù hợp không? Steve cần những con người có đam mê, dám dấn thân, đáp ứng những yêu cầu khắt khe của ông và không sợ bị chỉ trích.


Để lọt vào “măt xanh”  của Steve, bạn phải là những người giỏi nhất trong vô vàn những người giỏi. Theo cách gọi của ông, đó là những “người hạng A”. Một trong những khẩu hiệu nổi bật của ông là: “Hễ bạn tuyển vào một người hạng B, lập tức họ mang đến thêm những người hạng B và C.” Người hạng A trong quan niệm của Steve có thể là bất cứ ai có tài năng thật sự.
Randy Wiggington – người viết chương trình Macworld từng được Steve thu nhận vào Apple khi anh còn học trung học. Tuy nhiên, với Steve, tuổi tác, kinh nghiệm hay bằng cấp không thành vấn đề, điều quan trọng là Randy dư sức hiện thực hoá được những chiến lược, kế hoạch mà ông đề ra. Randy là mẫu người hạng A mà ông cần. Và đó là một lựa chọn đúng đắn của Steve.

Tạo ra môi trường làm việc thu hút nhân tài

Áp lực làm việc tại Apple là rất lớn và những đòi hỏi của Steve thì liên tục trong trạng thái kích thích cao độ. Thế nhưng, Apple vẫn là một trong những tổ chức thu hút nhân tài bậc nhất. Chính sự nhấn mạnh việc luôn về nhất trong mọi cuộc đua đã tạo nên sức hút đặc biệt của  Apple đối với  những cá nhân xuất sắc.



Steve Jobs đã mang đến cho những ai khao khát cống hiến cho Apple niềm tin vững vàng rằng họ sẽ được làm việc trong những dự án thật sự đột phá, trải nghiệm nhiều điều  thú vị và tạo ra những sản phấm với chất lượng vượt trội và ưu việt hơn bất cứ một tổ chức nào khác. Cho những người tài cảm giác về sự vượt trội của Apple chính là bí quyết tuyệt vời mà Steve dùng để chiêu mộ nhân tài.
Một khi Steve Jobs tìm được người giỏi và phù hợp, ông sẽ làm đủ mọi cách để có được họ và giữ chân họ. Thậm chí là thu phục nhân tài từ chính đối thủ cạnh tranh trực tiếp. 


Huyền thoại Steve luôn mang đến cho thế giới những điều khác biệt, từ các ý tưởng, cách thức tư duy, đánh giá đến từng sản phẩm chi tiết. Và nghệ thuật tuyển dụng nhân tài của ông cũng vậy, đầy ắp giá trị ứng dụng và giàu tính khai mở. Việc học hỏi những phương thức tuyển dụng đi chệch ra khỏi dáng dấp truyền thông của ông sẽ giúp cho các công ty/doanh nghiệp thu hút và giữ chân nhiều nhân tài. Qua đó, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho công ty/doanh nghiệp đảm bảo cho sự phát triển bền vững.

Yourwant.com.vn

Thứ Hai, 23 tháng 11, 2015

Cuộc sống diệu kỳ: "Kỳ lạ nụ hôn của Giáo hoàng làm teo khối u não của em bé"

Cuộc sống diệu kỳ: "Kỳ lạ nụ hôn của Giáo hoàng làm teo khối u não của em bé"

Khối u của một em bé người Mỹ đã bị teo nhỏ lại sau khi được Giáo Hoàng Francis âu yếm thơm vào đầu khiến gia đình em cảm thấy rất kỳ lạ.
Trong một chuyến thăm đến Philadenphia vào tháng 9 vừa qua, Giáo hoàng Francis đã dừng xe và hôn vào đầu bé gái Joey người bị một khối u não ở vị trí không thể phẫu thuật được.
Kỳ lạ nụ hôn của Giáo hoàng làm teo khối u não của em bé - Ảnh 1
Cha mẹ của cô gái Joey đã nói rằng, nụ hôn đó như một phép lạ.
Bà Kristen Masciantonio, mẹ của bé gái, may mắn này nói với đài truyền hình: “Con gái tôi được kết luận là khỏe hơn và tình trạng bệnh tiến triển. Thậm chí, cô bé đã biết hôn gió và bắt đầu chỉ trỏ được mọi thứ”.
Kỳ lạ nụ hôn của Giáo hoàng làm teo khối u não của em bé - Ảnh 2
Theo đài truyền hình, khi so sánh phim chụp khối u trong tháng Tám và tháng Mười một, kết quả thực sự khác biệt. Thân não của cô gái đã bị làm cho “teo nhỏ” và thay thế bởi các tế bào máu.
Kỳ lạ nụ hôn của Giáo hoàng làm teo khối u não của em bé - Ảnh 3
Bố của bé - ông Joey Masciantonio nói với đài truyền hình: "Năm ngoái quả thực là ác mộng đối với sự sống của con bé. Nhưng giờ đây, chúng tôi lại được sống với con. Tôi nghĩ rằng tất cả là nhờ ở Chúa Trời. Tôi tin chắc rằng Giáo hoàng là một sứ giả của Chúa trời”.
Theo doisongphapluat

Thứ Sáu, 13 tháng 11, 2015

Yếu tố phong thủy và sự "lụi tàn" của 6 triều đại phong kiến TQ

Yếu tố phong thủy và sự "lụi tàn" của 6 triều đại phong kiến TQ

Phong thủy bị trấn yểm đã biến Nam Kinh từ mảnh đất "vương khí thịnh" trở thành nơi chứng kiến sự lụi bại của sáu vương triều định đô tại đây trong lịch sử TQ.

Sáu vương triều đoản mệnh trên đất cố đô
Trong lịch sử Trung Quốc, Nam Kinh từng là kinh đô của 6 triều đại phong kiến.
Năm 221, Ngô vương Tôn Quyền từng ở Thạch Đầu Sơn (Kim Lăng ấp – Nam Kinh ngày nay) cho xây dựng Thạch Đầu Thành. Năm 229, Nam Kinh trở thành kinh đô, tên gọi là "Kiến Nghiệp", chu vi khoảng 11km.
Đây là dấu mốc đánh dấu việc lần đầu tiên Nam Kinh trở thành kinh đô của các triều đại phong kiến Trung Quốc.
Sau khi Tấn diệt Ngô, vào năm Thái Khang thứ ba (năm 282), nơi đây được đổi tên từ "Kiến Nghiệp" thành "Kiến Nghiệp" (Dù cách đọc giống nhau nhưng "nghiệp" trong hai cái tên này khác nhau về cách viết và ý nghĩa).
Vào năm Kiến Hưng thứ nhất (năm 313), vì tránh kỵ húy, Tư Mã Nghiệp đổi lại thành "Kiến Khang."
Sau khi Ngũ Hồ Loạn Hoa (loạn "Thập lục quốc") hình thành, Tây Tấn diệt vong. Vào năm Kiến Võ thứ nhất (năm 317), Tư Mã Duệ chọn Kiến Khang làm kinh đô, thành lập nhà Đông Tấn (317 – 420).
Nam Kinh từ đó cũng trở thành trung tâm văn hóa chính thống của Trung Hoa.
Sau nhà Đông Tấn, Tống triều (420 – 479), Tề triều (479 -502), nhà Lương (502 – 557), nước Trần (557 – 589) đều lần lượt chọn Nam Kinh làm kinh đô, sử cũ gọi là Nam triều. Bốn triều đại này trước đây cùng Ngô, Tấn xưng là "Lục Triều."
Nam Kinh nằm giáp với phía tây bắc của Trường Giang, phía đông có "Long bàn" Tử Kim Sơn, phía tây có "Hùng cứ" Thanh Lương Sơn, phía bắc có Huyền Vũ hồ, phía nam có Vũ Hoa Thai. Tứ phía có sơn thủy vây quanh, địa thế vô cùng hiểm yếu.
Về phong thủy của cố đô này, quân sư Thục quốc Gia Cát Lượng khi tới Kim Lăng cổ thành (Nam Kinh) đã từng cảm thán:
"Chung Sơn long bàn, thạch đầu hổ cứ, chân nại đế vương chi trạch dã" (nghĩa là "Núi Chung thế rồng cuộn, đá hình hổ phục, thật là chốn đế vương vậy")

Nam Kinh xưa kia từng được Khổng Minh Gia Cát Lượng đánh giá là "vùng đất của đế vương".
 Tuy nhiên có một điều kỳ lạ là: mặc dù Nam Kinh vương khí ngập tràn, nhưng các vương triều định đô ở đây đều tồn tại nhiều nhất là khoảng 100 năm trước khi bại vong.
Nhà Đông Ngô tồn tại được 69 năm, triều Đông Tấn kéo dài 102 năm, nhà Nam Tống chỉ có 59 năm, nước Tề chỉ duy trì được 23 năm, nhà Lương kéo dài 55 năm, và nhà Trần tồn tại trong 32 năm.
Vào cuối thời nhà Thanh, nhà nước Thái Bình Thiên Quốc do Hồng Tú Toàn tự thành lập đã chọn Nam Kinh làm thủ phủ, nhưng cũng chỉ duy trì được 9 năm.
Giải thích về sự lụi bại nhanh chóng của các triều đại định đô tại Nam Kinh, có hai giả thuyết được lưu truyền phổ biến.
Giả thuyết thứ nhất cho rằng Sở vương đã chôn vàng tại nơi đây để trấn vương khí, làm mất thế phong thủy cùng vùng đất này. Một giả thuyết khác lại khẳng định người đã chặt đứt mạch địa, cắt đứt long khí của cố đô Nam Kinh không ai khác chính là Tần Thủy Hoàng.
Sở vương chôn vàng để "trấn vương khí"
Vào thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc, vùng đất này lúc đầu thuộc sở hữu của Ngô vương Tôn Quyền, sau này lại bị Việt vương chiếm giữ. Tiếp đó, Sở vương đánh đuổi Việt vương, đóng quân ở bờ sông Sư Tử Sơn.
Có lần, Sở vương muốn dò xét lãnh thổ của mình, liền leo lên Sư Tử Sơn. Nhìn bao quát bốn phía, thấy nơi đây phong cảnh hùng vĩ, tráng lệ, Sở vương hết sức vui vẻ. Thế nhưng sắc mặt ông nhanh chóng trầm xuống.
Các đại thần vội hỏi nguyên nhân, Sở vương lúc đấy mới phiền não mà nói: "Nơi này phong cảnh tuy tốt, nhưng vương khí quá thịnh!"
Các đại thần rất muốn giải quyết vấn đề này, vì không thể để cho nơi đây sản sinh ra một bậc đế vương khác. Sau khi họp bàn để đưa ra biện pháp, có vị pháp sư đã nghĩ ra một cách: chôn trên Sư Tử Sơn một ít tiền vàng để trấn yểm.
Số vàng này dùng để "trấn vương khí", cũng là để đảm bảo không xuất hiện thêm một vị đế vương tranh giành thiên hạ. Sở vương nghe xong liền đồng ý, các vị đại thần nhanh chóng điều quân lên núi Sư Tử đào hầm trấn yểm.
Theo tập quán của hoàng gia, công trình kiến trúc xây dựng trên mặt đất gọi là "cung", công trình ngầm dưới đất thì gọi là "lăng". Như vậy, hầm có chôn theo vàng được gọi là "Kim Lăng".
Tên gọi đầu tiên của Nam Kinh là "Kim Lăng ấp". Ấp là đơn vị hành chính thấp hơn một bậc so với "châu", cao hơn một bậc so với "huyện". Còn "Kim Lăng" chính là xuất phát từ giai thoại trấn yểm của Sở vương.
Tần Thủy Hoàng chặt đứt long mạch cố đô?
Vào năm 210 TCN, Tần Thủy Hoàng đi tuần Kim Lăng. Trong lúc Tần Thủy Hoàng bị cái thế "long bàn hổ cứ" của vùng đất này thu hút, hai vị đạo sĩ đi cùng sắc mặt lại vô cùng nặng nề.
Khi ấy, ông có hỏi: "Kim Lăng địa thế thuận lợi, cảnh sắc tráng lệ, hai ngươi vì sao lại trầm mặc như vậy?"
Hai vị đạo sĩ khi ấy mới lo lắng trả lời: "Kim Lăng địa thế hiểm yếu, khí thế tràn đầy, lại nằm trên long mạch, vương khí vô cùng vượng, nếu không có đối sách, năm trăm năm sau sẽ xuất hiện bậc thiên tử."
Tần Thủy Hoàng nghe vậy vô cùng lo lắng. Ông tự xưng là "Thủy Hoàng" – tức là Hoàng đế đầu tiên, lại muốn con cháu mình phải đời đời trị vì thiên hạ, sao có thể dễ dàng bỏ qua cho Kim Lăng – vùng đất sẽ sản sinh ra một đế vương khác?
Ngay sau đó, Tần Thủy Hoàng hỏi hai vị đạo sĩ về đối sách trấn yểm vùng đất này. Hai vị chỉ vào ngọn núi gần đó mà nói:
"Phương Sơn nằm ở phía đông nam Kim Lăng, đỉnh núi bằng phẳng như quan ấn, được gọi là "thiên ấn sơn". Đó chính là ngọc ấn trời ban, quyết định sự thịnh suy và số phận của Kim Lăng. Chặt đứt long mạch ngọn núi này, chính là cắt đứt vương khí nơi đây.
Sau đó đổi dòng chảy của sông Hoài đi qua Kim Lăng, thông với Trường Giang, khiến cho sông Tần Hoài lấn át vương khí, bệ hạ có thể an tâm sở hữu ngôi báu đời đời." 

Tần Thủy Hoàng đã từng hạ lệnh "chặt gãy" núi Phương Sơn để cắt đứt long mạch của Nam Kinh.
 Ngay sau khi Tần Thủy Hoàng ra lệnh, quân đội được huy động để "chặt gãy" núi Phương Sơn, đổi dòng sông Hoài cho sông chảy qua địa phận Kim Lăng.
Tần Thủy Hoàng khi ấy thấy phía bắc có Sư Tử Sơn, Mã An Sơn, khí thế hùng vĩ nên đã ra lệnh "chặt gãy" cả hai tòa núi này.
Sau đó, ông đổi tên Kim Lăng thành Mạt Lăng. Chữ "mạt" trong tên gọi này có hàm ý coi nơi đây chỉ là nơi nuôi ngựa (thành ngữ Trung Quốc có câu "Mạt mã lệ binh", nghĩa là trước khi chiến tranh, cho ngựa ăn no, mài sắc binh khí).
Đương nhiên cả hai giai thoại trên vẫn chỉ là giả thuyết. Ngoài việc những vương triều định đô tại Nam Kinh vốn không hùng manh, còn có nguyên nhân sâu xa từ kinh tế, địa lý, nhân văn,…
Dựa theo yếu tố địa lý, Nam Kinh một mặt tựa vào sông, ở vào thế "long bàn hùng cứ" (rồng cuộn hổ ngồi), dễ thủ nhưng khó công. Định đô ở nơi đây chỉ có thể "Thủ thành cầu an" (bị động phòng thủ), chứ không thể tiến công chiếm đóng mở rộng.
Định đô ở vùng đất như vậy, sáu vương triều trên khó có thể tồn tại lâu dài ở vùng Trung Nguyên – nơi lắm kẻ có hùng tâm tráng trí nuôi mộng đế vương.
Hơn nữa, Nam Kinh nằm ở góc đông nam Trung Quốc, ngăn cách gần như biệt lập với phía bắc bởi "lạch trời" Trường Giang, nên cũng gặp nhiều khó khăn.

Nam Kinh địa hình hiểm yếu, ở vào thế "dễ thủ khó công". 
Từ góc độ kinh tế, Giang Nam từ trước tới nay nổi danh là nơi "đất lành", vừa giàu có vừa đông đúc.
Tuy nhiên, sự phát triển của kinh tế lại càng đẩy nhanh tốc độ hủ bại của tầng lớp thống trị, khiến cho vua chúa say mê cảnh sắc "Thượng uyển" cóXe như dòng nước, ngựa như rồng - Hoa xuân gió thổi lúc trăng trong.
Ngoại trừ yếu tố địa lý, kinh tế, bản thân những vị vua từng đóng đô ở đất Nam Kinh không có đủ thực lực và quyết tâm thống nhất Trung Nguyên. Rất có thể đây mới là nguyên nhân chính khiến cho sáu vương triều đóng đô trên mảnh đất này đều "đoản mệnh."

Tintuc.vn



Chuyện phá long mạch và sự đi xuống của một dòng họ nổi tiếng?!

Chuyện phá long mạch và sự đi xuống của một dòng họ nổi tiếng?!

(ĐSPL) - Sự hiển vinh, đỗ đạt của một dòng tộc, gia đình hay đi kèm với yếu tố tâm linh, vì thế khi dòng họ ấy sa sút, thì yếu tố tâm linh lại được đề cập tới. Chuyện họ Nguyễn(làng Kim Đôi, Quế Võ, Bắc Ninh), bị phá long mạch dẫn đến sa sút bây giờ vẫn là một bí ẩn.
Từ chuyện long mạch của làng bị phá
Làng tiến sĩ Kim Đôi từ trước tới nay có hai dòng họ rất phát về đường khoa cử là họ Nguyễn và họ Phạm. Dòng họ Nguyễn nối nhau làm quan trong triều được 13 đời. Tuy nhiên, kể từ đó không còn ai đỗ đạt cao và làm quan to nữa. Họ Phạm cũng gặp phải trường hợp gần giống như vậy. Người dân ở đây vẫn lưu truyền câu chuyện về làng bị cắt đứt long mạch nên vượng khí bị mất.
Tương truyền rằng ở làng Gội (nay thuộc xã Đại Xuân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) trước kia có một người từng đỗ tiến sĩ và được gọi với tên là Trạng Gội. Trạng Gội khi vinh quy về làng có tổ chức một lễ mừng tạ trời đất, tổ tiên và có mời các vị cao đạo của dòng họ Nguyễn đến dự.
Để mối quan hệ giữa hai dòng họ thêm bền chặt, các cụ nhà họ Nguyễn đã đúc một con chạch bằng vàng làm quà biếu. Nhưng không hiểu sao Trạng Gội khi đó đã hiểu rằng, món quà là sự khích bác, khinh miệt. Khi họ Nguyễn có người đỗ đạt liền sai người sang mời Trạng Gội tới chia vui. Trạng Gội không quên hiềm khích khi xưa liền đúc một quả cau xanh bằng vàng đem sang tặng. Họ Nguyễn cho rằng như thế là không phải và từ đó mâu thuẫn bắt đầu nảy sinh. Hai dòng họ bắt đầu có lời qua, tiếng lại với nhau và mâu thuẫn ngày càng sâu sắc.
Đến bây giờ, qua nghiên cứu của các nhà sử học, người cao tuổi nhiều đời của làng Kim Đôi vẫn chưa thống nhất được nguyên nhân tại sao long mạch của làng bị triệt. Người thì cho rằng, từ khi vua ban cho tám chữ vàng là “Kim Đôi gia thế, chu tử mãn triều” trong triều vốn đầy thị phi đã xuất hiện nhiều đố kị, ganh ghét. Người lại cho rằng do mâu thuẫn giữa Trạng Gội với làng. Cũng vì ngầm ý muốn triệt long mạch đất Dủi Quan (tên tục làng Kim Đôi) mà Trạng Gội đã dùng kế "vị công vi tư" (lấy việc công để làm việc tư) dâng tấu biểu đề nghị nhà vua cho xẻ thân đê làm cống đúng ở vị trí long mạch của làng với lý do tiêu thoát lũ ra sông Cầu.
Biết được thâm ý nhưng vì theo lệnh quan trên, người làng Dủi đành ngậm ngùi nhìn long mạch bị đứt. Tương truyền, con mương khi đào lên, 3 tháng sau vẫn rỉ nước màu đỏ. Người dân làng Kim Đôi khi đó kháo nhau rằng thứ nước đỏ kia chính là máu của long mạch bị đứt. Cũng từ đó, người Kim Đôi dù có học rộng hiểu sâu đến mấy cũng khó đỗ đạt cao và không còn được vinh hiển như tổ tiên mình nữa.
Tuy nhiên ông Nguyễn Văn Bảo, trưởng ban đại diện dòng họ Nguyễn làng Kim Đôi lại có cách lí giải khác về câu chuyện này. Ông cho biết: “Đứt long mạch vốn là một câu chuyện rất khó xác định bằng khoa học. Nếu xét trên thực tế, khu đất đó là đất son đỏ nên khi nước chảy qua sẽ tạo màu như thế. Hơn nữa, việc này lại xảy ra quá lâu, thế hệ chúng tôi cũng chỉ nghe các cụ truyền lại nên thực hư không rõ thế nào”.
Trước việc nhiều năm không có người đỗ đạt, người dân Kim Đôi bàn nhau lấp con mương để mong có thể “hàn” được long mạch. Nhưng có vẻ chuyện này cũng không đem lại hiệu quả. Ông Bảo cho biết thêm: “Việc “hàn” long mạch là chuyện rất khó vì chúng tôi bây giờ cũng không biết “hàn” kiểu gì vì nó chỉ là dải đất bị cắt ngang mà thôi”.
Thậm chí theo lời kể của ông Bảo thì khu vực được cho là bị triệt long mạch đó bây giờ đã bị san lấp khó có thể nhận ra được. Trước đây nó vốn là một cái cống thoát nước, nhưng nay người ta cho xây dựng một trạm bơm khác và chỗ đó đã được lấp đi. Chuyện “hàn” long mạch lại càng trở nên khó khăn và thiếu tính khả thi.

Ông Nguyễn Văn Bảo chỉ cho phóng viên thấy hai tấm bia cổ do cụ Lương Thế Vinh soạn thảo năm 1484
Tuy nhiên, có lời sấm truyền đã thành hiện thực (?). Dân gian kể lại rằng, đường khoa cử của người làng Kim Đôi rộng mở, trải mấy trăm năm rồi cũng dần khép lại như lời sấm: “Bạch nhạn sinh mao anh hào tận” (Nếu bãi cát vùng Bạch nhạn còn sinh sôi thì đường hoạn lộ còn hanh thông). Thời gian dâu bể, bãi Bạch nhạn xưa không còn xác định được chính xác địa điểm. Nhưng có điều chắc rằng, bãi cát đó đã dần thành làng mạc và khu dân cư đông đúc.
Đến lẽ thịnh suy của một dòng họ
Chuyện làng Kim Đôi bị phá phong thủy hầu như ai cũng biết và hậu quả của nó thế nào thì suốt hơn 300 năm qua người dân làng Kim Đôi tự kiểm chứng. Dòng họ Nguyễn kể từ đó không còn người đỗ đạt và làm quan to nữa. Tất nhiên điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, nhất là trong thời hiện đại cần phải có cái nhìn khác.
Theo tâm sự của ông Bảo, ngoài chuyện long mạch làng bị cắt đứt, ngôi “huyệt kết” của dòng họ cũng không còn được nguyên vẹn như xưa. Ngôi mộ này vốn do cụ Nguyễn Lung lừa thầy địa lý Tàu mà lấy được, sau đem táng hài cốt cha mẹ, ông bà tại đó và con cháu về sau nối nhau làm quan. Sau khi cụ mất thì cũng được táng tại đó.
Ngôi huyệt này trước đây vốn nằm sát một con ngòi mà sau này người ta cho đào thành con mương dẫn thoát nước ra sông Cầu. Như vậy theo tâm linh thì ngôi mộ đã bị đào bới và động chạm tới khí mạch. Trong quá trình đào con mương, người ta đã đào được hai tấm bia cổ đặt úp vào nhau dưới đáy ngòi. Tuy nhiên, họ không hề đào được bộ hài cốt nào cả.
Lý giải điều này ông Bảo cho hay: “Trong gia phả có ghi rất rõ là huyệt mộ đều được chôn rất sâu, nằm dưới hẳn con ngòi nên dù đào mương cũng khó có thể tìm thấy được. Từ trước tới nay người ta thường tránh việc động chạm tới mồ mả nhưng do là công trình quốc gia nên chúng tôi đành phải chấp nhận”.
Ông Bảo cũng cho biết: “Chuyện khoa cử mỗi thời mỗi khác. Họ Nguyễn trước nay vẫn đứng đầu thôn, xã về tỉ lệ con cháu đỗ đạt. Tuy nhiên có một thực tế là con cháu họ Nguyễn bây giờ không còn nhiều người làm chức cao như trước đây. Bên cạnh chuyện làng nước, chúng tôi cũng còn nhiều việc trong họ. Sau nhiều năm bàn tính, chúng tôi đã quyết định xây dựng nhà thuỷ đình, vừa để truyền dạy cho con cháu sau này về truyền thống của cha ông, vừa như là một giải pháp để bước ra khỏi lời nguyền”.
Ngôi mộ tổ họ Nguyễn làng Kim Đôi bên cạnh con mương thoát nước.
Hiện nay con cháu họ Nguyễn đã có nhiều người là tiến sĩ, thạc sĩ ... Hàng năm, dòng họ đều tiến hành tuyên dương, khen thưởng, vinh danh những người đỗ đạt cao để khuyến khích con cháu học hành. Tuy nhiên kì tích của tổ tiên có lẽ khó lòng lặp lại. Và, câu chuyện phá phong thủy như một sự ám ảnh đối với mỗi người.
Mặc dù vậy, ông Bảo cũng cho rằng cần phải có một cái nhìn mới để tránh bị chìm vào “cái bóng” của cha ông. “Thực tế nếu bản thân mỗi người không cố gắng thì dù có được phúc ấm tổ tiên cũng không thể khá lên được. Cho nên chúng tôi luôn lấy việc đó để giáo huấn con cháu và việc xây nhà thủy đình cũng nhằm mục đích như vậy. Phúc ấm của tổ tiên vẫn còn rất vượng” – ông Bảo cho biết.
Bằng chứng cho việc này là hiện nay nhiều người có con đi thi đều biện lễ đến thắp hương ở nhà thờ họ Nguyễn để cầu xin lộc. Theo lời kể của ông Bảo thì hầu hết những người đến xin đều được như ý muốn. Và mỗi khi thành công họ lại sắm lễ đến để tạ ơn. Nhất là số người đến xin lộc tại nhà thờ họ ngày càng đông và không chỉ người làng mà còn nhiều người từ nơi khác đến nữa.
Tấm bia cổ rất có giá trị về mặt sử liệu
Trong khi đào mương thoát nước ở gần khu mộ tổ họ Nguyễn làng Kim Đôi, người ta đã đào được 2 tấm bia cổ được xếp úp vào nhau nằm dưới đáy ngòi. Cho đến bây giờ các nhà nghiên cứu sử học vẫn không lý giải được tại sao hai tấm bia đó lại nằm ở vị trí đó và úp mặt vào nhau. Qua các bản dịch cho thấy, tấm bia được cụ Lương Thế Vinh soạn thảo năm 1484. Nội dung tấm bia là phác lại 5 đời họ Nguyễn làng Kim Đôi từ cụ tổ Sư Húc. Trải qua hơn 500 năm, tấm bia chỉ mờ mờ nét chữ chứ không có dấu hiệu bị huỷ hoại.
 
Phạm Thiệu